Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu lớp 11

577

Bài tập làm văn phân tích bài thơ Câu cá mùa thu lớp 11 của Nguyễn Khuyến bao gồm dàn ý phân tích bài thơ Câu cá mùa thu và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh phân tích bài thơ Câu cá mùa thu hay nhất.
Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu

Dàn ý phân tích bài thơ Câu cá mùa thu lớp 11

1. Mở bài

Nguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, ông là nhà thơ của quê hương, những sáng tác mà ông viết lên đậm chất vùng quê Nam Bộ, trong đó bài thơ Thu Điếu là một trong những bài thơ như thế.

2. Thân bài

+ Thu Điếu là bài thơ hay viết về mùa thu của đất nước, trong bài viết này tác giả đã nói lên những cung bậc, cảm xúc của mùa thu đất nước, ở đó có nhiều cảnh vật, thiên nhiên và con người.
+ Thu Điếu là tác phẩm nói về cảnh sắc thiên nhiên của vùng quê Bắc Bộ ở đó con người đang say trong những cảnh sắc của thiên nhiên đất trời.
+ Thu Điếu là bài thơ mang lại bức tranh thu trong trẻo, ở đó có nhiều vẻ thanh sơ, nhẹ nhàng và mang nhiều đặc điểm của vùng nông thôn vùng núi Bắc Bộ, với những hình ảnh của bóng trăng, làn ao, nhà cỏ, le te, sự lấp lánh của thiên nhiên…
+ Vẻ đẹp của mùa thu còn được miêu tả tinh tế qua những gam màu sắc gợi lại nhiều cảm xúc cho con người, với bầu trời trong xanh, cao và trở nên rất rộng, nó mang những đặc điểm riêng của vùng xứ Bắc.
+ Vẻ đẹp thanh sơ, tạo nên bức tranh nhẹ nhàng, sự dịu nhẹ cùng với không gian thiên nhiên nhẹ nhàng, tinh tế, đem đến sự hấp dẫn cho con người, với không gian nhẹ nhàng, bầu trời trong xanh, mùa thu đang đẹp mơ mộng trước con mắt của người thi sĩ.
+ Hơn nữa những đường nét, hình khối cũng mang những điểm nét nhẹ nhàng, những đặc điểm, cùng với tầng mây trôi nhè nhẹ gợi lại cho người đọc những xúc cảm sâu sắc, tinh tế.
+ Với sự hài hòa, giản dị, ở đó bức tranh thiên nhiên đẹp tuyệt diệu, cùng với sự chuyển động của không gian, thời gian, ở đó cảnh vật u buồn làm cho tâm trạng của con người cũng mang đôi nét buồn, xa vắng, con người như đang chìm vào không gian thiên nhiên nhè nhẹ, mang những nỗi buồn của mùa thu.
+ Mùa thu của thiên nhiên đất trời tạo nên bức tranh tinh tế, ới nàn mây gợi tý, ao lặng, ở đó người thi sĩ đang ngồi câu.
+ Qua cách miêu tả uyển chuyển, cách xây dựng tinh tế, tác giả đem đến cho người đọc những xúc cảm sâu sắc, cảnh vật trở nên nhẹ nhàng, con người nơi đây cũng đang mang tâm trạng cùng với không gian, nhẹ nhàng và vô cùng cuốn hút.

1. Kết luận

Với cách miêu tả tinh tế, đường nét hình khối xuất hiện trong tác phẩm cũng ngày càng thể hiện những điểm sáng mới cho tác phẩm, bài thơ để lại cho người đọc một bức tranh thiên nhiên đẹp, cùng với tâm trạng của con người.

Bài văn mẫu phân tích bài thơ Câu cá mùa thu lớp 11

Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu – bài 1

Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu
Thu điếu nằm trong chùm thơ thu gồm ba bài nức danh nhất về thơ Nôm cùa Nguyễn Khuyến. Bài thơ nói lên một nét thu đẹp tĩnh lặng nơi làng quê xưa, biểu lộ mối tình thu đẹp mà cô đơn, buồn của một nhà Nho nặng tình với quê hương đất nước. Thu điếu cũng như Thu ẩm, Thu vịnh chỉ có thể được Nguyễn Khuyến viết vào thời gian sau khi ông đã từ quan về sống ở quê nhà (1884)

Hai câu thơ: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo – Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo mở ra một không gian nghệ thuật, một cảnh sắc mùa thu đồng quê. Chiếc ao thu nước trong veo có thể nhìn được rong rêu tận đáy, tỏa ra khí thu lạnh lẽo như bao trùm không gian. Không còn cái se lạnh đầu thu nữa mà là đã thu phân, thu mạt rồi nên mới lạnh lẽo như vậy. Trên mặt ao thu đã có một chiếc thuyền câu bé tẻo teo tự bao giờ. Một chiếc gợi tả sự cô đơn của thuyền câu. Bé tẻo teo nghĩa là rất bé nhỏ; âm điệu của vần thơ cũng gợi ra sự hun hút của cảnh vật (trong veo – bé tẻo teo). Đó là một nét thu đẹp và êm đềm.

Hai câu thực (Sóng nước theo làn hơi gợn tí – Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo) tả không gian hai chiều. Màu sắc hòa hợp, có sóng biếc với lá vàng. Gió thổi nhẹ cũng đủ làm cho chiếc lá thu màu vàng khẽ đưa vèo, làm cho sóng biếc lăn tăn từng làn từng làn hơi gợn tí. Phép đối tài tình làm nổi bật một nét thu, tô đậm cái nhìn thấy và cái nghe thấy. Ngòi bút của Nguyễn Khuyến rất tinh tế trong dùng từ và cảm nhận, lấy cái lăn tăn của sóng hơi gợn tí phối cảnh với độ bay xoay xoay khẽ đưa vèo của chiếc lá thu. Chữ vèo là một nhân tự mà sau này thi sĩ Tản Đà vừa khâm phục, vừa tâm đắc. Ông thổ lộ một đời thơ mới có được một câu vừa ý: vèo trông lá rụng đầy sân (cảm thu, tiễn thu).

Bức tranh thu được mở rộng dần ra qua hai câu thơ:

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Bầu trời thu xanh ngắt thăm thẳm, bao la. Áng mây, tầng mây (trắng hay hồng?) lơ lửng nhè nhẹ trôi. Thoáng đãng, êm đềm, tĩnh lặng và nhẹ nhàng. Không một bóng người lại qua trên con đường làng đi về các ngõ xóm: Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Vắng teo nghĩa là vô cùng vắng lặng không một tiếng động nhỏ nào, cũng gợi tả sự cô đơn, trống vắng. Ngõ trúc trong thơ Tam nguyên Yên Đổ lúc nào cũng gợi tả một tình quê nhiều bâng khuâng, man mác:

Dặm thế, ngõ đâu từng trúc ấy
Thuyền ai khách đợi bến đâu đây?

(Nhớ núi Đọi)

Ngõ trúc và tầng mây cũng là một nét thu đẹp và thân thuộc cùa làng quê. Thi sĩ như đang lặng ngắm và mơ màng đắm chìm vào cảnh vật.

Đến hai câu kết thì bức tranh thu mới xuất hiện một đối tượng khác:

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Thu điếu nghĩa là mùa thu câu cá. Sáu câu đầu mới chỉ có cảnh vật: ao thu, chiếc thuyền câu, sóng biếc, lá vàng, tầng mây, ngõ trúc.. Mãi đến phần kết mới xuất hiện người câu cá. Một tư thế nhàn: tựa gối ôm cần. Một sự đợi chờ: lâu chẳng được. Một cái chợt tỉnh khi mơ hồ nghe cá đâu đớp động dưới chân bèo. Người câu cá như đang ru hồn mình trong giấc mộng mùa thu. Người đọc nghĩ về một Lã Vọng câu cá chờ thời bên bờ sông Vị hơn mấy nghìn năm về trước. Chỉ có một tiếng cá đớp động sau tiếng lá thu đưa vèo, đó là tiếng thu của làng quê xưa. Âm thanh ấy hòa quyện với một tiếng trên không ngỗng nước nào, như đưa hồn ta về với mùa thu quê hương. Người câu cá đang sống trong một tâm trạng cô đơn và lặng lẽ buồn. Một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn thanh cao đáng trọng.

Xuân Diệu đã hết lời ca ngợi cái diệu xanh trong Thu điếu. Có xanh ao, xanh sóng, xanh trời, xanh tre, xanh bèo.. và chỉ có một màu vàng của chiếc lá thu đưa vèo. Cảnh đẹp êm đềm, tĩnh lặng mà man mác buồn. Một tâm thế an nhàn và thanh cao gắn bó với mùa thu quê hương, với tình yêu tha thiết. Mỗi nét thu là một sắc thu, tiếng thu gợi tả cái hồn thu đồng quê thân thiết, vần thơ: veo – teo – vèo – teo – bèo, phép đối tạo nên sự hài hòa cân xứng, điệu thơ nhẹ nhàng bâng khuâng… cho thấy một bút pháp nghệ thuật vô cùng điêu luyện, hồn nhiên – đúng là xuất khẩu thành chương. Thu điếu là một bài thơ thu, tả cảnh ngụ tình tuyệt bút.

Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu – bài 2

Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu
Nguyễn Khuyến là một trong những bậc túc nho tài năng có cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước, thương nhân dân nhưng lại bất lực trước thời cuộc loạn lạc. Ông còn được mệnh danh là nhà thơ của dân tình làng cảnh Việt Nam. Nhắc đến Nguyễn Khuyến hẳn chúng ta sẽ không quên được bài thơ Thu điếu (câu cá mùa thu)

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lững, trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Bài thơ nắm trong chum thơ thu của Nguyễn Khuyễn 3 bài, Thu Vịnh, Thu điếu, Thu ẩm. Các bài thơ này đều được tác giả sáng tác khi đã về ở ẩn tại quê nhà. Tác phẩm được viết bằng chữ nôm với thể thơ thất ngôn bát cú đường luật có bố cục gồm 4 phần: đề, thực, luận kết.

Ngay từ đầu bài thơ chúng ta đã thấy được không gian quen thuộc của một buổi câu cá:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”.

Không gian được mở hai bởi hai hình ảnh là “ao thu” và “thuyền câu, đó là những hình ảnh rất thân thuộc đối với nhân dân vùng quên Bác bộ. Đó là ao chứ không phảo sông, hồ. Chính vì thế cho nên xuất hiện một chiếc thuyền câu bé tẻo teo, xuất hiện giữa cái ao ấy. Hình ảnh đối lập nhau nhưng không khiến cho không gian trở nên lạc long. Có lẽ khung cảnh này là cuối thu nên không khí ao thu đã nhuốm màu hơi lạnh. Từ láy lạnh lẽo diễn tả thời tiết se lạnh. Từ láy “lạnh lẽo đã diễn tả một không khí se lạnh vừa diễn tả cái tĩnh lặng của mùa thu. Cả mặt nước tĩnh lặng khiến cho làn nước mùa thi vốn đã trong nay lại càng trong hơn. Tác giả đã dùng từ “trong veo” để diễn tả các trong ấy. Nước đã trong lại còn không một gợn song khiến cho người ngồi trên thuyền cũng cảm nhận được một không gian vô cùng yên tĩnh. Ngồi trên thuyền có thể ngắm được rong rêu và cả bầu trời in vào dưới đấy sông. Cảnh thu thật đẹp, thật trong trẻ, thanh sơ, hai câu thơ mà tác giả đã sử dụng đến 4 tiếng có vần eo, không chỉ có tác dụng miêu tả về không khí lạnh lẽo, không gian rất eo hẹp, thanh sơ. Như vậy ngay từ những nét vẽ đầu tiên người đẹp chúng ta đã nhìn thấy được cảm giác cô đơn trong lòng người. Như vậy ngay từ những nét đầu tiên chúng ta đã cảm nhận được sự rung cảm của tâm hồn, thi sĩ trước những cản đẹp mùa thu.

Đến với hai câu thơ tiếp tiếp theo, các bạn sẽ tiếp tục vẽ được những cảnh mùa thu vô cùng tươi đẹp.

“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”

Tác giả đã vận dụng tài tình nghệ thuật lấy động tả tĩnh. Tả cái động “hơi gợn tý” của làn sóng và khẽ đưa vèo của lá vàng rơi khắc họa nên cái tĩnh lặng của mùa thu làng quê Việt Nam xưa. Mặc dù không gian có tĩnh lặng thì khi chúng ta mới có thể nghe thấy những âm thanh rất nhỏ ấy. Không chỉ miêu tả cái tĩnh lặng mà hai câu thơ còn làm nổi bật được vẻ trong trẻo nên thơ của mùa thu. Sóng ở đây là sóng biếc của làn hơi nước trong ánh lên một màu xanh ngọc bích thật diệu kỳ. Điểm xuyết cho bức tranh ấy là một chiếc lá vàng rơi. Cũng như các nhà thơ khác thì mùa của Nguyễn Khuyến cũng gắn liến với chiếc lá vàng, nhưng có một điểm khác biệt là lá vàng trong thơ Nguyễn Khuyến chỉ điểm xuyết len lỏi giữa màu màu xanh của nước mà thôi…. Nhà thơ không lấy màu vàng làm sắc màu chủ đạo mà lấy, và nó cũng không mang sắc màu héo úa của thời gian. Nó mang một màu đặc trưng cho mùa Thu Việt Nam. Nhà thơ Xuân Diệu cũng là từng nhận định “Cái thú vị của bài “Thu điếu” là ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi…” đọc hai câu thơ này người đọc sẽ bất ngờ bởi chữ “vèo” được dùng trong câu thơ. Không biết sau này Tản Đà có ảnh hưởng của Nguyễn Khuyến hay không nhưng cũng đã dùng chữ vèo trong câu thơ “Vèo trông lá rụng đầy sân”. Hai câu thơ tả thực là bức tranh trong trẻo tĩnh lặng nên thơ, qua đó người đọc cảm nhận được tình yêu thiên, đất nước từ tận sâu trong lòng tác giả.

Hai câu thơ tiếp theo không gian của bức tranh được mở rộng cả về chiều cao và chiều sâu:

“Tầng mây lơ lửng, trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo”

Trên cao, trên bầu trời cao rộng thoáng đãng, xanh ngắt với những áng mây lơ lững giữa tầng không. Cái màu xanh ngắt là nét đặc trưng đặc biệt của bầu trời thu quê hương có cụ Tam Nguyên Yên Đổ, bởi vậy mà bài thơ nào ở trong chum thơ thu ấy cũng có màu xanh.

“Trời thu xanh ngắt mấy từng cao”.

(Thu vịnh)

“Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”.

(Thu ẩm)

Trên nền trời xanh là những âng mây lơ lửng. Từ láy này diễn tả những áng mây dường như không trôi theo làn gió, đồng thời gợi ra làn gió. Từ quanh co không chỉ diễn tả những con ngõ nhỏ sâu hun hút mà còn gợi cho người đọc liên tưởng dến những suy nghĩ không thông thoát của con người. Đằng sau bức trang phong cảnh ấy chúng ta cũng cảm nhận được tâm hồn tha thiết với thiên nhiên.

“Tựa gối buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo”

Con người hiện ra tư thế nhàn nhã “tựa gối ôm cần”, “Buông “ cần chứ không phải là ôm cần, nó diễn tả được một tư thế thong thả thả lỏng cần câu, ngồi câu mà không chú ý đến đến việc câu cá. Chốn quan trường khiến cho ông chướng tai mắt cho nên ông tìm về chốn quê nhà để có thú vui điền viên. Thế nhưng, có lẽ Nguyễn Khuyến không thể làm được. Đi câu mà chẳng chú ý đến việc câu, tâm trí ông phải chăng cứ miên man trong những suy nghĩ không nguôi về non sông. Tiếng cá đớp mồi dưới chân bèo rất khẽ và nhẹ lại là tiếng ở đâu đó vọng lại thế mà vẫn đủ sức làm ông giật mình. Ở đây hình ảnh người đi câu cá mang đậm dáng dấp cả những ngư tiều canh mục đời xưa. Họ đều là những con người muốn lánh đục tìm trong, chờ đợi thời tế, những nhà nho yêu nước mà bất lực trước thời cuộc.

Bài thu điếu thực sự là bài thơ điển hình cho cả mùa thu của làng cảnh Việt Nam. Qua bài thơ, chúng ta hiểu được tấm lòng yêu thiên nhiên, đất nước và tâm trạng bất lực trước thời thế của tác giả.

Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu – bài 3

Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu
Trong nền thơ ca dân tộc có nhiều bài thơ tuyệt hay nói về mùa thu. Riêng Nguyễn Khuyến đã có chùm thơ ba bài: “Thu vịnh”, “Thu ẩm” và “Thu điếu”. Bài thơ nào cũng hay cũng đẹp cho thấy một tình quê dào dạt. Riêng bài “Thu điếu”, nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định là “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. “Thu điếu” là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc : Cảnh đẹp mùa thu quê hương, tình yêu thiên nhiên, yêu mùa thu dẹp gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết.

“Thu điếu” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Ngôn ngữ tinh tế, hình tượng và biểu cảm. Cảnh thu, trời thu xinh đẹp của làng quê Việt Nam như hiện lên trong dáng vẻ và màu sắc tuyệt vời dưới ngọn bút thần tình của Nguyễn Khuyến.

Hai câu đầu nói về ao thu và chiếc thuyền câu. Nước ao “trong veo” tỏa hơi thu “lạnh lẽo” . Sưong khói mùa thu như bao trùm cảnh vật. Nước ao thu đã trong lại trong thêm, khí thu lành lạnh lại trở nên “lạnh lẽo”. Trên mặt nước hiện lên thấp thoáng một chiếc thuyền câu rất bé nhỏ – “bé tẻo teo”. Cái ao thuyền câu là hình ảnh rung tâm của bài thơ, cũng là hình ảnh bình dị, thân thuộc, đáng yêu của quê nhà. Theo Xuân diệu cho biết vùng đất đồng chiêm trũng Bình Lục, Hà Nam có cơ man nào là ao, nhiều ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà “bé tẻo teo”:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”.

Các từ ngữ: “lạnh lẽo, trong veo, bé tẻo teo” gợi tả đường nét, dáng hình, màu sắc của cảnh vật, sắc nước mùa thu; âm vang lời thơ như tiếng thu, hồn thu vọng về.

Hai câu thơ tiếp theo trong phần thực là những nét vẽ tài ba làm rõ thêm cái hồn của cảnh thu:

“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo”.

Màu “biếc” của sóng hoà hợp với sắc “vàng” của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy. Nghệ thuật đối trong phần thực rất điêu luyện: “lá vàng” với “sóng biếc”, tốc độ “vèo” của lá bay tương ứng với mức độ “tí” của gợn sóng. Nhà thơ Tản Đà đã hết lời ngợi ca chữ “vèo” trong thơ của Nguyễn Khuyến. Ông đã nói một đời thơ của mình may ra mới có được câu thơ vừa ý trong bài “Cảm thu, tiễn thu”: “vèo trông lá rụng đầy sân”.

Hai câu luận mở rộng không gian miêu tả. Bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu trời “xanh ngắt” với “những tầng mây lơ lửng” trôi theo chiều giớ nhẹ. Trong chùm thơ thu, Nguyễn Khuyến nhận diện sắc trời thu là “xanh ngắt”:

“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” (Thu vịnh)
“Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt” (Thu ẩm)
“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” (Thu điếu)

“Xanh ngắt” là xanh mà có chiều sâu. Trời thu không mây (xám) mà xanh ngắt, thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian, cái nhìn vời vợi của nhà thơ, của ông lão đang câu cá. Thế rồi ông lơ đãng đưa mắt nhìn về bốn phía làng quê. Hình như bà con dân làng đã ra đồng hết. Xóm thôn vắng lặng. Mọi con đường quanh co, hun hút, không một bóng người qua lại:

“Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

Cảnh vật êm đềm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt. Người câu cá như đang chìm trong giấc mộng mùa thu. Tất cả cảnh vật từ mặt nước “ao thu lạnh lẽo” đến “ngõ trúc quanh co” hiện lên với đường nét, màu sắc, âm thanh,… có khi thoáng chút bâng khuâng, man mác nhưng rất gần gũi, thân thiết với mọi con người Việt Nam. Phong cảnh thiên nhiên của mùa thu quê hương sao đáng yêu thế!

Cái ý vị của bài “Thu điếu” là hai câu kết:

“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo”.

“Tựa gối ôm cần” là tư thế của người câu cá, cũng là một tâm thế nhàn, thoát vòng danh lợi. Cái âm thanh “cá đâu đớp động”, nhất là từ “đầu” gợi lên sự mơ hồ, xa vắng và chợt tỉnh. Người câu cá ở đây chính là nhà thơ, một ông quan to triều Nguyễn, yêu nước thương dân nhưng bất lực trước thời cuộc, không cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp đã cáo bệnh, từ quan. Đằng sau câu chữ hiện lên một nhà nho thanh sạch trốn đời đi ở ấn. Đang ôm cần câu cá nhưng tâm hồn nhà thơ như đang đắm chìm trong giấc mộng mùa thu, bỗng chợt tỉnh trở về thực tại khi “cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Cho nên cảnh vật ao thu, trời thu êm đềm, vắng lặng như chính nỗi lòng của nhà thơ vậy: buồn cô đơn và trống vắng.

Âm thanh tiếng cá “đớp động dưới chân bèo” đã làm nổi bật khung cảnh tịch mịch của chiếc ao thu. Cảnh vật như luôn luôn quấn quýt với tình người. Thiên nhiên đối với Nguyễn Khuyến như một bầu bạn tri kỷ. Ông đã trang trải tình cảm, gửi gắm tâm hồn, tìm lời an ủi ở thiên nhiên, ở sắc vàng của lá thu, ở màu “xanh ngắt” của bầu trời thu, ở làn “sóng biếc” trên mặt ao thu “lạnh lẽo”…

Thật vậy, bài thơ “Câu cá mùa thu” là một bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Khuyến. Cảnh sắc mùa thu quê hương được miêu tả bằng những gam màu đậm nhạt, nhưng nét vẽ xa gần, tinh tế gợi cảm. Âm thanh của tiếng lá rơi đưa “vèo” trong làn gió thu, tiếng cá “đớp động” chân bèo – đó là tiếng thu dân dã, thân thuộc của đồng quê đã khơi gợi trong lòng chúng ta bao hoài niệm đẹp về quê hương đất nước.

Nghệ thuật gieo vần của Nguyễn Khuyến rất độc đáo. Vần “eo” đi vào bài thơ rất tự nhiên thoải mái, để lại ấn tượng khó quên cho người đọc; âm hưởng của những vần thơ như cuốn hút chúng ta: trong veo – bé tẻo teo – đưa vèo – vắng teo – chân bèo. Thi sĩ Xuân Diệu đã từng viết: “Cái thú vị của bài Thu điếu ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu xanh vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi…”

Thơ là sự cách điệu tâm hồn. Nguyễn Khuyến yêu thiên nhiên mùa thu, yêu cảnh sắc đồng quê với tất cả tình quê nồng hậu. Ông là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Đọc “Thu điếu”, “Thu ẩm”, “Thu vịnh”, chúng ta yêu thêm mùa thu quê hương, yêu thêm xóm thôn đồng nội, đất nước. Với Nguyễn Khuyến, tả mùa thu, yêu mùa thu đẹp cũng là yêu quê hương đất nước. Nguyễn Khuyến là nhà thơ kiệt xuất đã chiếm một địa vị vẻ vang trong nền thơ ca cổ điển Việt Nam.

Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu – bài 4

Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu
Mùa thu vốn là một đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam. Thu thường mang đến cho thi sĩ một nỗi buồn man mác, gợi nhớ hay nuối tiếc về một cái gì đó xa xôi, đầy bí ẩn. Dường như không ai vô tình mà không nói đến cảnh thu, tình thu khi đã là thi sĩ! Đến với Nguyễn Khuyến, chúng ta sẽ thấy được điều đó. Cảnh mùa thu trong thơ ông không phải là mùa thu ở bất cứ miền nào, thời nào, mà là mùa thu ở quê ông, vùng đồng chiêm Bắc Bộ lúc bấy giờ. Chỉ với bầu trời “xanh ngắt” (Thu vịnh), với cái nước “trong veo” của ao cá (Thu điếu), và cái “lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, làn ao lóng lánh bóng trăng loe” ( Thu ẩm). Nguyễn Khuyến đã làm say đắm lòng bao thế hệ! Khi nhận xét về bải thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu có viết: “Bài thơ thu vịnh là có thần hơn hết, nhưng ta vẫn phải nhận bài Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. Vậy ta thử tìm hiểu xem thế nào mà “Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”?

Nếu như ở Thu vịnh, mùa thu được Nguyễn Khuyến đón nhận từ cái không gian thoáng đãng, mênh mông, bát ngát, với cặp mát hướng thượng, khám phá dần các tầng cao của mùa thu để thấy được: “ Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”, thì ở Thu điếu, nhà thơ không tả mùa thu ở một khung cảnh thiên nhiên rộng rãi, không phải là trời thu, rừng thu hay hồ thu, mà lại chỉ gói gọn trong một ao thu: ao chuôm là đặc điểm của vùng đồng chiêm trũng, vùng quê của Nguyễn Khuyến:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Câu thơ đầu tồn tại hai vần “eo”, câu thơ thể hiện sự co lại, đọng lại không nhúc nhích, cho ta một cảm giác lạnh lẽo, yên tĩnh một cách lạ thường. Không có từ “lẽo” và từ “veo” cũng đủ cho ta thấy cảnh tĩnh, nhưng thêm hai từ này lại càng thấy cảnh tĩnh hơn nữa. Khung ao tuy hẹp nhưng tác giả lại không bị giới hạn mà mở rộng ra nhiều chiều, trong cái không khí se lạnh đó dường như làm cho làn nước ao ở độ giữa thu, cuối thu như trong trẻo hơn. Những tưởng trong “ao thu lạnh lẽo” ấy, mọi vật sẽ không xuất hiện, thế mà thật bất ngờ: Khung ao không trống vắng mà có “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Có khung cảnh thiên nhiên và có dấu vết của cuộc sống con người, khiến cảnh thu thêm được phần nào ấm cúng. Chiếc thuyền “tẻo teo” trông thật xinh xắn. Câu thơ đọc lên, làm cho đối tượng miêu tả trở nên gần gũi và thân mật biết bao!Với hai câu mở đầu, nhà thơ sử dụng những từ ngữ gợi hình ảnh, tạo độ gợi cao: “lẽo”, “veo”, “tẻo teo” mang đến cho người đọc một nỗi buồn man mác, cảnh vắng vẻ, ít người qua lại. Và rồi hình ảnh:

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Càng làm cho không khí trở nên tĩnh lặng hơn, nhà thơ đã dùng vcái động của “lá vàng trước gió” để miêu tả cái tĩnh của cảnh thu làng quê Việt Nam. Những cơn gió mùa thu đã xuất hiện và mang theo cái lạnh trở về, khiến ao thu không còn “lạnh lẽo”, không còn tĩnh lặng nữa vì mặt hồ đã “gợn tí”, “lá vàng khẽ đưa vèo”, cảnh vật dường như đã bắt đầu thay đổi hẳn đi! Cơn “sóng biếc” nhỏ “hơi gợn tí” và chiếc lá “trước gió khẽ đưa vèo” tưởng như mâu thuẫn với nhau, nhưng thật ra ở đây Nguyễn Khuyến đã quan sát kĩ theo chiếc lá bay trong gió, chiếc lá rất nhẹ và thon thon hình thuyền, chao đảo liệng đi trong không gian, rơi xuống mặt hồ yên tĩnh. Quả là phải có một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thật sâu sắc thì Nguyễn Khuyến mới có thể cảm nhận được những âm thanh tinh tế, tưởng chừng như chẳng ai để ý đến như thế! Như trên đã nói: mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng vần “eo” nhưng tác giả không bị giới hạn mà đã mở rộng không gian theo chiều cao, tạo nên sự khoáng đạt, rộng rãi cho cảnh vật:

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Bầu trời thu xanh ngắt xưa nay vẫn là biểu tượng đẹp của mùa thu. Những áng mây không trôi nổi bay khắp bầu trời mà “lơ lửng”. Trước đây Nguyễn Du đã từng viết về mùa thu với:

Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng

Nay Nguyễn Khuyến cũng thế. Mở ra không gian rộng, cảm hứng Nguyễn Khuyến lại trở về với khung cảnh làng quê quen thuộc cũng vẫn hình ảnh tre truc, vẫn bầu trời thu ngày nào, vẫn ngõ xóm quanh co…tất cả đều thân thương vè nhuốm màu sắc thôn quê Việt Nam. Chỉ đến với Nguyễn Khuyến, chúng ta mới thấy được những nét quê tĩnh lặng, êm ả như vậy. Trời sang thu, không khí giá lạnh, đường làng cũng vắng vẻ. “Ngõ trúc quanh co” cũng “vắng teo” không bóng người qua lại. Sau này Xuân Diệu trong bài Đây mùa thu tới cũng đã bắt đựơc những nét điển hình đó của sông nước ở vùng quê, khi trời đã bắt đầu bước vào những ngày giá lạnh:

Những luồng run rẩy rung rinh lá…
… Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò
Cùng với: Cành biếc run run chân ý nhi (Thu)

Thế rồi trong cái không khí se lạnh đó của thôn quê, những tưởng sẽ không có bóng dáng của con người, ấy vậy mà thật bất ngờ đối với người đọc:

Tựa gối buông cần, lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Hai câu thơ kết thúc đã góp phần bộc lộ đôi nét về chân dung tác giả. Tôi nhớ không lầm dường như đã có tài liệu cho rằng: “tựa gối, ôm cần lâu chẳng được”, “ôm” chứ không phải là “buông”. Theo Việt Nam tự điển thì “buông” hay hơn, phù hợp với tính cách của nhà thơ hơn. Trong những ngày từ quan lui về ở ẩn, mùa thu câu cá, đó là thú vui của nhà thơ nơi làng quê để tiêu khiển trong công việc, để hoà mình vào thiên nhiên, mà quên đi những bận lòng với nước non, cho tâm hồn thanh thản. “Buông”: thả lỏng, đi câu không cốt để kiếm cái ăn (hiểu theo đúng nghĩa của nó), mà để giải trí, cho nên “ôm” không phù hợp với hoàn cảnh. Từ “buông” mang đến cho câu thơ hiệu quả nghệ thuật cao hơn.

Tóm lại, qua Thu điếu, ta phần nào thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với thiên nhiên, đối với cuộc sống: chỉ có những ao nhỏ, những “ngõ trúc quanh co”, màu xanh của bầu trời, cũng đã làm say đắm lòng người. Thì ra mùa thu ở thôn quâ chẳng có gì là xa lạ, mùa thu ở thôn quê chính là cái hồn của cuộc sống, cái duyên của nông thôn. Câu cuối này là thú vị nhất, vừa gợi được cảm giác, vừa biểu hiện đựơc cuộc sống ngây thơ nhất với sự việc sử dụng những âm thanh rất trong trẻo có tính chất vang ngân của những cặp vần, đã chiếm được cảm tình của độc giả, đã đọc qua một lần thì khó mà quên được.

Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu – bài 5

Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu
Thu vốn là đề tài quen thuộc trong kho tàng thơ ca Việt Nam. Nếu như trong văn học hiện đại, ta có thể bắt gặp “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu hay “Thơ tình cuối mùa thu” của Xuân Quỳnh thì khi quay trở về thời kì trung đại, “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến như một nét mực hoàn thiện bức tranh mùa thu rực rỡ nhưng man mác một nỗi buồn.

Tam nguyên yên đỗ Nguyễn Khuyến sinh năm 1835, là một nhà thơ nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam. Thơ văn của ông vừa mang màu sắc trào phúng, lại có bài nhuốm đậm vẻ đẹp trữ tình. Dù là bằng gam màu nào thì thơ văn của ông vẫn toát lên một nét rất riêng, làm say đắm biết bao thế hệ yêu nghệ thuật.

“Thu điếu” hay “Câu cá mùa thu” là bài thơ Nôm nổi tiếng, thuộc chùm thơ thu gồm ba bài của Nguyễn Khuyến là “Thu điếu”, “Thu ẩm” và “Thu vịnh”. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật. Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến đã vẽ nên một bức tranh mùa thu trong và tĩnh, gần gũi với hình ảnh mùa thu thường thấy ở lảng quê Bắc Bộ:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.”

Hai câu thơ, mười bốn từ nhưng các từ chứa vần “eo” đã chiếm một số lượng đáng kể, khi đọc lên ta có cảm giác không gian như co cụm lại, luồng khí thì lạnh lẽo và yên tĩnh đến lạ thường. Mùa thu đã đến qua những dấu hiệu của cảnh vật. Nước trong ao lạnh lẽo, mặt nước thì tĩnh lặng và trong xanh đến mức có thể thấy dưới đáy ao có những gì. Những tưởng trong không gian vắng lặng, tĩnh mịch đến mức u ám, ảm đạm thì một hình ảnh mới xuất hiện, xua tan đi vẻ hoang sơ tĩnh lặng: một chiếc thuyền câu bé nhỏ giữa mặt nước trong veo. Chiếc thuyền “tẻo teo” ấy trông thật xinh xắn, tuy bé nhỏ nhưng nó giúp cho không gian nơi đây thêm phần ấm cúng hơn, bởi trên chiếc thuyền, ắt hẳn có bóng dáng con người xuất hiện…

Không dừng lại ở đó, bức tranh thu còn được tác giả mở rộng hơn về chiều kích không gian:

“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.”

Không gian tuy mở rộng với nhiều cảnh vật hơn nhưng sự tĩnh lặng của mùa thu vẫn không hề xoay chuyển. Mặt nước vẫn yên tĩnh đến lạ, chỉ có chút “gợn tí” bởi một cơn gió đầu thu. Cuốn mình theo cơn gió se se lạnh ấy là một chiếc “lá vàng…khẽ đưa vèo”. Nghệ thuật đối lập được sử dụng triệt để trong câu thơ này, giữa cái “khẽ” giữa chiếc lá rơi nhẹ nhàng với từ “vèo” đặc tả cho tốc độ rơi nhanh, một chiếc lá rơi rụng không thể nào xua tan đi cái sự tĩnh mịch vốn có của mùa thu nơi đây.

Những cảnh vật dưới mặt đất đã được đặc tả, tác giả tiếp tục hướng cái nhìn của mình lên khung trời rộng lớn bên trên, mở ra một không gian thoáng đãng:

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.”

Bầu trời xanh ngắt là một vẻ đẹp không thể nhầm lẫn của mùa thu. Trên không gian cao vút xanh trong ấy là những “tầng mây lơ lửng” tạo cảm giác bềnh bồng, nhẹ nhàng, có chút gì đó cô đơn, hiu quạnh khi trong không gian rộng lớn như vậy mà chỉ có một phần mây lẻ loi giữa trời. Chiều cao đã được mở rộng, không gian đã trở nên quang đãng, Nguyễn Khuyến lại xoay tầm mắt trở về mặt đất thân thuộc. “Ngõ trúc quanh co” cũng “vắng teo” người qua lại. Không gian quả thật là yên mịch quá đỗi…

Thế rồi, trong cái không khí se se lạnh bởi mùa thu ấy, hình ảnh con người cuối cùng cũng đã xuất hiện:

“Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”

Hai câu thơ cuối cùng này đã góp phần bộc lộ chân dung của tác giả. Trong những ngày cáo quan về ở ẩn, nhà thơ đã chọn cho mình một chiếc cần câu mà tạm quên đi việc dân, việc nước. Thế nhưng ông không thể nào chú tâm vào việc đi câu mà chỉ chú ý tới cảnh vật xung quanh, có lẽ trong thâm tâm ông, ông chỉ muốn có một không gian yên tĩnh để suy nghĩ về sự đời. Người câu cá như đang hòa làm một với thiên nhiên, như đang cô đơn, lạc lõng giữa dòng đời xô bồ, tấp nập.

Mùa thu qua “Câu cá mùa thu” dù rất tĩnh lặng, hiu hắt và có phần ảm đạm nhưng đâu đó vẫn mang những vẻ đẹp đặc trưng, rực rỡ đến lạ thường. Qua đó ta có thể thấy được tình yêu của nguyễn Khuyến đối với cảnh thu và một lòng nồng nàn hướng về đất nước không thể nào bị xóa mờ.

Trên đây là bài tập làm văn phân tích bài thơ Câu cá mùa thu lớp 11, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!

Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu lớp 11
5 (100%) 1 vote

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here