Soạn văn bài Lưu biệt khi xuất dương

499

Bài tập làm văn soạn văn bài Lưu biệt khi xuất dương ngữ văn 11 ngắn gọn được tổng hợp và đăng tải để giúp các bạn học sinh nắm chắc nội dung bài học một cách đơn giản.

Soạn bài lưu biệt khi xuất dương
Soạn bài lưu biệt khi xuất dương

Soạn văn bài Lưu biệt khi xuất dương

BTLV soạn văn bài Lưu biệt khi xuất dương 1

I. Hướng dẫn soạn bài lưu biệt khi xuất dương

Câu 1

Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh khá đặc biệt, đó là vào lúc tình hình chính trị trong nước hết sức rối ren. Chủ quyền đất nước hoàn toàn mất vào tay giặc. Phong trào vũ trang chống Pháp theo con đường Cần Vương đã thất bại không có cơ hội cứu vãn, chế độ phong kiến đã cao chung, bao anh hùng, nghĩa sĩ cứu nước đã hi sinh, … Tình hình đó đặt ra trước mắt các nhà yêu nước một câu hỏi lớn, đầy day dứt: cứu nước bằng con đường nào?

Ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản từ nước ngoài đang tràn vào Việt Nam ngày càng mạnh qua con đường Trung Hoa, Nhật Bản và trực tiếp từ Pháp, từ các nước phương Tây. Đang bế tắc, người ta có thể tìm thấy ở đó những gợi ý hấp dẫn về một con đường cứu nước với những viễn cảnh đầy hứa hẹn cho tương lai. Vì thế, các nhà nho ưu tú của thời đại như Phan Bội Châu say sưa dấn bước, bất chấp nguy hiểm, gian lao mong tìm ra ánh bình minh cho Tổ Quốc.

Câu 2

– Quan niệm mới về chí làm trai và tư thế tầm vóc của con người trong vũ trụ. Đó là một quan niệm đến chí nam nhi, một quan niệm nhân sinh phổ biến dưới thời phong kiến Nam nhi phải làm nên chuyện lớn, phải lập nên kì tích lớn lao, dám mưu đồ việc lớn, quan niệm sống tích cực, khích lệ biết bao, đấng nam nhi lập nên công tích, lưu danh muôn đời.

– Ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời cuộc: dưới thời phong kiến người ta quan niệm tạo hóa sinh ra con người chi phối số phận vì vậy thường nảy sinh tư tưởng phó thác số mệnh cho trời định đọat. Điểm táo bạo, mới mẻ trong “chí làm trai” của Phan Bội Châu là chủ động xoay chuyển thời thế.

Há để càn khôn tự chuyển dời
– Ngụ ý nói đến mục tiêu hoạt động của nam nhi là phải tìm con đường cách mạng mang tới độc lập cho dân tộc.

– Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất nước vẫn tin điều xưa cũ.

Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thuở há không ai?

Không phải nói tự cao tự đại thiếu khiêm tốn mà đó là cách tự khẳng định mình hết sức mới mẻ, đáng kính trọng. Ta đã gặp một cái tôi “ngất ngưởng” giữa cuộc đời của Nguyễn Công Trứ – ở đấy Phan Bội Châu thể hiện ra rõ cái tôi với tinh thần trách nhiệm gánh vác giang sơn.

Non sông đã chết sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.

– Phan bội châu thể hiện sâu sắc nỗi đau mất nước, ý thức về nỗi đau mất nước của thân phận không cam chịu. Sách thánh hiền răn dạy đạo đức lễ nghĩa nhất là đạo làm tôi phải trung với vua. Phan Bội Châu là một trí thức nho học, cũng từng đọc sách thánh hiền nhưng ông cũng nhận thức được đất nước nay đã thay đổi, vua tài tướng giỏi không còn, chỉ còn ông vua phản dân hại nước. “Thánh hiền” đã vắng – trung quân một cách ngu muội. chẳng có ích lợi gì. Câu thơ thức tỉnh ý thức hành động thiết thực, yêu nước là phải cứu nước.

– Khát vọng hành động và tư thế lên đường.

Muốn vượt biển Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi

Hình ảnh kì vĩ lớn lao “biển Đông”, “cánh gió” muôn trùng “sóng bạc” tương ứng với hành động cao cả, tầm vóc phi thường của Phan Bội Châu.

– Thể hiện khát vọng lên đường có một sức mạnh, khơi dậy nhiệt huyết của cả một thế hệ.

Câu 3

So với nguyên tác, hai câu 6 và 8 dịch có đôi điều khác biệt:

– Câu 6: Nguyên tác: “Nguyện trục trường phong Đông hải khứ” – Mong muốn đuổi theo ngọn gió dài đi qua biển Đông. Câu dịch thơ lại là: “Muốn vượt bể Đông theo cánh gió” – đạp bằng gian khó để đạt được ước nguyện giải phóng dân tộc. Nhưng câu thơ dịch chỉ chú ý đến “vượt bể Đông” mà không chú trọng đến ý thơ thể hiện được nhà thơ ý thức được gian khó – ý thức được gian khó nhưng vẫn khao khát vượt qua “đuổi theo”. Do đó làm mất đi đôi chút lớn lao, mạnh mẽ, can trường của nhân vật trữ tình.

– Câu 8: Nguyên tác: “Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi” – ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên. Câu thơ dịch là: “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”. Câu thơ dịch làm mất đi cái kì vĩ, hào sảng của hình ảnh “nhất tề phi” – “cùng bay lên” đầy lãng mạn, hùng tráng.

Câu 4

Những yếu tố tạo lên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài thơ là:

– Khát vọng sống hào hùng, mãnh liệt của nhân vật trữ tình.
– Tư thế con người kì vĩ, đầy lãng mạn, sánh ngang cùng vũ trụ.
– Khí phách ngang tàn, dám đương đầu với mọi thử thách.
– Giọng thơ tâm huyết, sâu lắng mà sục sôi, hào hùng.

II. LUYỆN TẬP

1. Viết đoạn văn ngắn bình giảng hai câu cuối bài thơ.

Hai câu kết:

Muốn vượt biển Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

– Những hình ảnh kì vĩ, lớn lao: “Biển Đông”, “Cánh gió”, “muôn tùng sóng bạc”, phù hợp với hành động cao cả, tầm vóc phi thường của chủ thể trữ tình.

– Câu thơ cuối dịch nghĩa là “Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên” là một hình ảnh hào hùng lãng mạn. Sóng của biển cả hay nhiệt huyết cứu nước dân trào chắp cánh cho ý chí vượt đại dương tìm đường cứu nước thêm phần hăm hở, tự tin. Tư thế và khát vọng lên đường của chủ thể trữ tình ở hai câu kết có một sức truyền cảm mạnh mẽ. Phan Bội Châu đã từ bài thơ này mà khơi gợi được nhiệt huyết của cả một thế hệ.

BTLV soạn văn bài Lưu biệt khi xuất dương 2

Câu 1

Đọc phần tiểu dẫn để hiểu bối cảnh ra đời của bài thơ là do những ảnh hưởng từ nước ngoài vào để hiểu cái nhiệt tình, hăm hở, “vượt biển Đông” của tác giả và các đồng chí của mình (Những quyển Tân thư – sách bằng chữ Hán do các nhà cách mạng Trung Quốc trước tác hoặc dịch từ tiếng Anh, tiếng Pháp nhằm truyền bá những tư tưởng dân chủ tư sản, những thành tích duy tân của Nhật Bản; đất nước Trung Hoa “duy ngã độc tôn” đang chuyển mình…)

Câu 2

Lẽ sống mới và khát vọng hành động của nhà chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi ra đi tìm đường cứu nước (Các em dựa trên cảm xúc của tác giả và những hình tượng nghệ thuật trong bài thơ để giải đáp câu hỏi này).

– Hai câu đề:

Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời.

+ Trước hết nó vẫn nói đến chí nam nhi, một quan niệm nhân sinh phổ biến dưới thời phong kiến. (Trong xã hội trọng nam khinh nữ, được sinh ra là nam nhi làm niềm vinh hạnh, nhưng đồng thời trọng trách cũng rất nặng nề) – Nam nhi phải làm nên chuyện lớn, phải lập nên kì tích lớn lao, dám mưu đồ những việc lớn. Có thể thấy đây là một quan niệm sống tích cực đã khích lệ được biết bao đấng nam nhi lập nên công tích, lưu danh muôn đời.

Phạm Ngũ Lạo từng bày tỏ khát khao được tài giỏi, mưu lược như Gia Cát Lượng để giúp vua, giúp nước ( mặc dù ông đã là tướng giỏi, có công chống giặc Nguyên Mông).

Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.
Hoặc những câu thơ của Nguyễn Công Trứ:
Chí làm train am, bắc, đông, tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn biển.

Tất cả đều xuất phát từ quan niệm như Phan Bội Châu đã nói “Làm trai phải lạ ở trên đời”.

+ Dưới thời phong kiến người ra quan niệm tạo hóa sinh ra con người, chi phối số phận con người vì vậy thường nảy sinh tư tưởng phó thác số mệnh cho trời định đoạt. Điểm mới mẻ, táo bạo trong quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu là sự chủ động xoay chuyển thời thế (Câu thơ “Há để càn khôn tự chuyển dời” là một câu hỏi tu từ biểu hiện sự phủ định: Há để …. Không thể để…).

Đặt trong bối cảnh hiện tại, câu thơ của Phan Bội Châu ngụ ý nói đến mục tiêu hành động của nam nhi là phải tìm con đường Cách mạng mang tới độc lập về cho đất nước.

– Hai câu thực:

Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thuở há không ai?

+ Trong cuộc đời này cần có ta. Không phải lối nói tự cao tự đại thiếu khiêm tốn mà đó là cách tự thể hiện mình hết sức mới mẻ, đáng kính trọng. Ta đã gặp một cái tôi “ngất ngưởng” giữa cuộc đời của Nguyễn Công Trứ nhưng nhà thơ nghiêng về phác thảo ột chân dung, một phong cách sống – Còn ở đây, Phan Bội Châu thể hiện rất rõ cái tôi công dân đầy tinh thần trách nhiệm gánh vác giang sơn, không chỉ riêng ông mà còn khích lệ các trang nam nhi cần có ý thức đó (cuộc đời này cần có chúng ta “xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn “Bài ca chúc Tết thanh niên – Phan Bội Châu”).

+ Một đời người sống vì nước, ngàn năm sau tên tuổi sẽ được lưu.

Hai câu thơ cụ thể hóa lẽ sống của nam nhi: phải tự giác, chủ động, trước cuộc đời, phải lưu danh thiên cổ. Tác giả khẳng định mình đồng thời thúc giục mọi người sống có ích cho đời.

– Hai câu luận:

Non sông đã chết sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.

Tác giả gắn chí nam nhi vào hoàn cảnh thực tế của đất nước.

+ Khi đất nước có ngoại xâm, những người có lòng yêu nước thường hay đặt ra vấn đề “vinh – nhục” (Các em nhớ lại một số câu văn trong bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn; “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu). Câu thơ của Phan Bội Châu, thể hiện sâu sắc nỗi đau mất nước, ý thức về nỗi nhục của thân phận nô lệ, ngầm chứa sự phản kháng, không cam chịu (sống thêm nhục).

+ Sách thánh hiền răn dạy đạo đức lễ nghĩa, nhất là đạo làm tôi phải trung với vua. Phan Bội Châu cũng là tri thức nho học, cũng từng đọc sách thánh hiền nhưng ông đã có nhận thức khác. Đất nước đã đổi thay, những ông vua tài giỏi, đức độ không còn, chỉ còn những ông vua phản dân hại nước, “Thánh hiền đã vắng” trung quân một cách ngu muội chẳng ích lợi gì. Sách thơ thức tỉnh ý thức hành động thiết thực, yêu nước là phải cứu nước (ở một bài thơ khác, Phan Bội Châu khuyên thanh niên “Xếp bút nghiêng mà tu dưỡng lấy tinh thần” – Bỏ lối học cũ để tu dưỡng tinh thần cứu nước).

Phan Bội Châu đã dám đối mặt với nền học vấn cũ bằng sự quyết liệt, táo bạo của một nhà cách mạng đi tiên phong cho thời đại mới.

– Hai câu kết:

Muốn vượt biển Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

+ Những hình ảnh kì vĩ, lớn lao: “Biển Đông”, “Cánh gió”, “muôn tùng sóng bạc”, phù hợp với hành động cao cả, tầm vóc phi thường của chủ thể trữ tình.

+ Câu thơ cuối dịch nghĩa là “Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên” là một hình ảnh hào hùng lãng mạn. Sóng của biển cả hay nhiệt huyết cứu nước dân trào chắp cánh cho ý chí vượt đại dương tìm đường cứu nước thêm phần hăm hở, tự tin. Tư thế và khát vọng lên đường của chủ thể trữ tình ở hai câu kết có một sức truyền cảm mạnh mẽ. Phan Bội Châu đã từ bài thơ này mà khơi gợi được nhiệt huyết của cả một thế hệ.

Câu 3

Âm hưởng hào dùng, giọng thơ tâm huyết, sục sôi, là những yếu tố có sức lôi cuốn người nghe, người đọc.

II. Luyện tập

Câu 1

Viết đoạn văn ngắn bình giảng hai câu cuối bài thơ (Các em xem phần gợi ý ở trên)

Câu 2

Có thể xem “Xuất dương lưu biệt” là bài thơ mở đầu xứng đáng cho một thời đại văn học mới.

– Bài thơ đã thể hiện những tư tưởng mới mẻ, táo bạo, phù hợp với xu thể của thời đại.
– Bài thơ mở đầu cho thơ văn tuyên truyền, vận động cách mạng.

Trên đây là bài tập làm văn soạn văn bài Lưu biệt khi xuất dương, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!

Soạn văn bài Lưu biệt khi xuất dương
5 (100%) 1 vote

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here