Soạn văn bài Rừng Xà nu

405

Bài tập làm văn Soạn văn bài Rừng Xà nu ngắn gọn theo sách giáo khoa lớp 12 do Nguyễn Trung Thành sáng tác được sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình.

Soạn bài Rừng xà nu
Soạn bài Rừng xà nu

Soạn văn bài Rừng Xà nu

Bài soạn 1: Soạn văn bài Rừng Xà nu

Bố cục bài Rừng xà nu:

Gồm 3 phần

– Đoạn đầu: Hình ảnh rừng xà nu
– Phần chữ nhỏ: Câu chuyện Tnú sau ba năm đi lực lượng về thăm làng.
– Còn lại: Câu chuyện về cuộc đời bi tráng của Tnú và câu chuyện chiến đấu của dân làng Xô Man được cụ Mết kể lại.

Câu 1:

Ý nghĩa truyện qua:

– Nhan đề tác phẩm:

+ Rừng xà nu: ẩn chứa khí vị, Tây Nguyên, gợi nên vẻ đẹp hùng tráng, sức sống bất diệt … => Rừng xà nu mang nhiều tầng ý nghĩa bao gồm cả thực lẫn tượng trưng => chứa đựng cảm xúc nhà văn và linh hồn tác giả.

– Cảnh rừng xà nu dưới tầm đại bác: hứng chịu mọi sự hủy diệt của đạt bác Mĩ, đầy thương tích, chết choc nhưng vẫn giàu sức sống, vươn lên => biểu tượng cho cuộc sống và phẩm chất cao đẹp của dân làng Xô Man.
– Rừng xà nu, đồi xà nu trải dài … => sự tiếp nối, bền vững, trường tồn, không gì hủy diệt được => tượng trưng cho sức sống của đất nước và nhân dân mãi trường tồn.

Câu 2:

a. Người anh hùng mà cụ Mết kể chính là Tnú. Phẩm chất, tình cách của người anh hùng Tnú:

– Gan góc, táo bạo, dũng cảm, trung thực (khi còn nhỏ cùng Mai vào rừng tiếp tế cho anh Quyết).
– Lòng trung thành với cách mạng được bộc lộ qua thử thách (bị giặc bắt, tra tấn, lưng Tnú ngang dọc vết dao chém của kẻ thù nhưng anh vẫn gan góc).
– Số phận đau thương: không cứu được vợ con, bản thân bị bắt, bị tra tấn (bị đối mười đầu ngón tay)
– Quật khởi đứng dậy cầm vũ khí tiêu diệt bọn ác ôn.
– Tnú may mắn hơn so với thế hệ đàn anh của mình như anh hùng Núp và A Phủ:

  • Không phải sống kiếp tội đòi cam phận, cam chịu.
  • Được thừa hưởng phong trào cách mạng từ cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc.
  • Được giác ngộ lí tưởng cách mạng ngay từ tuổi nhỏ.

b. Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú: “Tnú không cứu được vợ con”. Cụ Mết nhắc tới bốn lần để nhấn mạnh: khi chưa cầm vũ khí, Tnú chỉ có hai bàn tay không thì ngay cả những người thương yêu nhất Tnú cũng không cứu được. Câu nói của cụ Mết muốn khẳng định: chỉ có cầm vũ khí đứng lên mới là con đường sống duy nhất, mới bảo vệ được những gì thân yêu, thiêng liêng nhất; chân lí cách mạng đúc rút từ chính thực tế máu xương, tính mạng của dân tộc, những con người thương yêu nên chân lí ấy phải ghi tạc vào xương cốt, tâm khảm và truyền lại cho thế hệ tiếp nối.
c. Câu chuyện Tnú với dân làng Xô Man nói lên chân lí lớn của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Phải chống lại mọi kẻ thù xâm lược, kể cả phải cầm vũ khí và hi sinh tính mạng.

d. Vai trò của các nhân vật:

– Cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng là sự tiếp nối các thế hệ làm nổi bật tinh thần bất khuất của làng Xô Man nói riêng, của Tây Nguyên nói chung.
– Mai, Dít là thế hệ hiện tại, trong Dít có Mai của thời trước và có Dít của hôm nay. Vẻ đẹp của Dít là vẻ đẹp của sự kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh.
– Bé Heng là thế hệ tiếp nối, kế tục cha anh để đưa cuộc chiến tới thắng lợi cuối cùng.

Dường như cuộc chiến khốc liệt này đòi hỏi mỗi người Việt Nam phải có sức trỗi dậy của một Phù Đổng Thiên Vương.

Câu 3:

Hình ảnh cánh rừng xa nu và hình tượng nhân vật Tnú gắn kết khăng khít với nhau. Nhà văn muốn dùng rừng xà nu làm biểu tượng cho tinh thần gan góc, dũng cảm, dạn dày, bất khuất, trung kiên … của nhân vật Tnú và dân làng Xô Man.

Câu 4:

Nghệ thuật

– Đặc sắc, đậm đà chất sử thi hùng tráng. Chất sử thi toát lên qua đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, hình ảnh thiên nhiên, các chi tiết nghệ thuật, giọng điệu, ngôn ngữ của tác phẩm:
– Đề tài có ý nghĩa lịch sử: sự vùng dậy của dân làng Xô man chống Mỹ Diệm.
– Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng. Rừng xà nu làm nền cho bức tranh về cuộc đấu tranh chống giặc (Cả rừng … ào ào rung động, lửa cháy khắp rừng).
– Các nhân vật tiêu biểu được miêu tả trong bối cảnh trang nghiêm, hùng vĩ, vừa mang phong cách Tây Nguyên vừa mang phẩm chất của anh hùng thời đại.
– Kết cấu vòng tròn: Mở đầu, kết thúc là hình ảnh của rừng xà nu, cùng với sự trở về của Tnú sau ba năm xa cách.
– Cách trần thuật: Chuyện về sự nổi dậy của dân làng và cuộc đời Tnú được kể lại trong một đêm anh về thăm làng, qua lời cụ Mết, bên bếp lửa bập bùng – Giọng kể trang trọng như truyền cho thế hệ con cháu những trang sử bi thương và anh hùng của cộng đồng. Chuyện về thời hiện tại được kể bằng giọng điệu và ngôn ngữ sử thi.

Bài soạn 2: Soạn văn bài Rừng Xà nu

I. Tác giả – tác phẩm

1. Tác giả

Nguyên Trung Thành (bút danh khác là Nguyên Ngọc) tên khai sinh là Nguyễn văn Báu, sinh năm 1932, quê ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Năm 1950 ông vào bộ đội, sau đó làm phóng viên báo Quân đội nhân dân Liên khu V. Sau hiệp định Giơ – ne – vơ, Nguyên Ngọc tập kết ra Bắc nhưng năm 1962, ông lại trở về miền Nam làm Chủ thịch hội Văn nghệ giải phóng miền Trung Trung Bộ, đồng thời phụ trách tạp chí Văn nghệ quân phóng của Quân khu V.
Các tác phẩm chính: Đất nước đứng lên (tiểu thuyết, 1954), Mạch nước ngầm (truyện vừa, 1960), Rẻo cao (tập truyện ngắn, 1961), Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (tập truyện và kí, 1969), Đất Quảng (tiểu thuyết, phần I – 1971, phần II – 1974).

Trong cả hai cuộc kháng chiến, Nguyên Ngọc chủ yếu gắn bó với chiến trường Tây Nguyên. Những thành công lớn nhất trong sự nghiệp văn học của Nguyên Ngọc cũng gắn với mảnh đất ấy.

2. Tác phẩm

Truyện ngắn Rừng xà nu được viết năm 1965 (ra mắt lần đầu tiên trên tạp chí Văn nghệ Quân phóng Trung Trung Bộ số 2/1965, sau đó in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc) là tác phẩm nổi tiếng nhất trong số các sáng tác của Nguyên ngọc viết trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mĩ.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 48 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

– Nhan đề của tác phẩm:

  • Rừng xà nu là kí ức đẹp với những kỉ niệm sâu sắc của nhà văn về mảnh đất và con người Tây Nguyên.
  • Tiêu biểu cho số phận, sức sống bất diệt và tinh thần đấu tranh quật khởi của nhân dân Tây Nguyên và cả dân tộc Việt Nam.

– Cảnh rừng xà nu dưới tầm đại bác:

  • Nằm trong “tầm đại bác”, ngày 2 lần bị bắn, “Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào cây xà nu cạnh con nước lớn”.
  • Hàng vạn cây không cây nào không bị thương.

→ Nằm trong thư thế của sự hủy diệt bạo tàn, trong tư thế của sự sống đang đối diện với cái chết.

– Hình ảnh những ngọn đồi, cảnh rừng xà nu trải ra hút tầm mắt, chạy tít tắp cho đến tận chân trời luôn trở đi trở lại trong tác phẩm: gợi ra cảnh rừng xà nu hùng tráng và bất diệt không chỉ của con người Tây Nguyên, cả Miền nam và của cả dân tộc.

Câu 2 (trang 48 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

a. Người anh hùng mà cụ Mết kể chính là Tnú với những phẩm chất đáng quý:

Tnú là người dũng cảm, không sợ hi sinh, tình yêu và tinh thần trung thành với cách mạng.

– Khi còn nhỏ:

  • Đi nuôi cán bộ.
  • Quyết tâm học chữ.
  • Làm liên lạc bị bắt nhất quyết không khai cộng sản ở đâu.

– Khi trưởng thành:

  • Thay anh Quyết lãnh đạo dân làng.
  • Vùng lên cứu vợ con khi bị giặc tra tấn.
  • Bị giặc bắt không sợ mà dũng cảm đấu tranh chống lại kẻ thù.
  • Bị giặc đốt mười ngón tay nhưng không kêu van.

Là người giàu tình yêu thương và gắn bó với dân làng:

– Yêu thương vợ con sâu sắc.
– Yêu quê hương: đó là tình yêu máu thịt, đi đâu cũng đau đáu hướng về quê hương.

→ Tnú vừa là nguyên mẫu của vẻ đẹp ngoài đời vừa mang vẻ đẹp của con người Tây Nguyên.

Nếu nhân vật A Phủ được Tô Hoài miêu tả chủ yếu với cái nhìn bên ngoài thông qua ngoại hình và hành động thì Tnú được Nguyên Ngọc khám phá từ những xung đột, giằng xé nội tâm từ bên trong.

b. Trong câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú, cụ Mết nhắc lại tới bốn lần việc Tnú không cứu được vợ con, để rồi khắc ghi vào tâm trí của người nghe câu nói: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo” như một điệp khúc đau thương, day dứt nhằm nhấn mạnh:
“Khi chưa có vũ khí, chỉ có hai bàn tay không thì ngay cả những người yêu thương nhất cũng không cứu được”.
→ Đưa ra quy luật tất yếu: Phải dùng bạo lực cách mạng để chống laị bọn phản cách mạng, đó là chân lí đấu tranh ngàn đời của dân tộc.
c. Câu chuyện của Tnú cũng như của dân làng Xô Man làm sáng ngời chân lí của dân tộc ta trong thời địa bấy giờ: chỉ có cầm vũ khí đứng lên là con đường sống duy nhất, mới bảo vệ những gì thiêng liêng nhất, và mọi thứ sẽ thay đổi.

d. Vai trò của các nhân vật

– Cụ Mết: là hiện thân cho truyền thống thiêng liêng, biểu tượng cho sức mạnh để tập hợp nổi dậy.
– Mai, Dít: là vẻ đẹp của thế hệ hiện tại (kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh).
– Bé Heng: là thế hệ nối tiếp đưa cuộc chiến đến thắng lợi cuối cùng.

→ Các nhân vật làm thành tập thể đoàn kết, lớp lớp nối tiếp nhau. Nó tạo nên sức mạnh bền bỉ, bất tận của dân làng Xô Man, như những rừng xà nu anh dũng, bạt ngàn đến tận chân trời.

Câu 3 (trang 49 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Hình tượng cánh rừng xà nu và hình tượng nhân vật Tnú có một sự gắn kết hữu cơ hết sức sâu sắc, mà ở đó sức sống mãnh liệt, sự kiên định trường tồn thể hiện sinh động, mạnh mẽ, kiêu hãnh. Vẻ đẹp sức sống và sự gắn bó của cây rừng xà nu cùng với nhân vật Tnú trở thành một phần sự sống của Tây Nguyên, đem lại cho tác phẩm sức khái quát lớn.

Câu 4 (trang 49 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm:

– Kết cấu song trùng mở đầu và kết thúc đều là hình ảnh cây xà nu thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả. Hình ảnh rừng xà nu nối tiếp mở ra con đường kháng chiến gian khổ, đau thương nhưng anh hùng, bất khuất. Cây xà nu còn là sức sống của con người Tây Nguyên, những cây xà nu nối tận chân trời giống như những thế hệ con người Tây Nguyên vẫn sẽ tiếp tục sinh sôi, trưởng thành trong cuộc kháng chiến.

– Ngôn ngữ phù hợp với cá tính nhân vật, mang đậm bản sắc Tây Nguyên, đậm chất anh hùng ca, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa hiện thực khốc liệt và sắc màu lãng mạn.

→ Sự thống nhất cao độ giữa chân lí đời sống và chân lí nghệ thuật.

III. Luyện tập

Câu 2 (trang 49 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2)

Hình ảnh đôi bàn tay Tnú: Bàn tay Tnú gắn liền với cuộc đời nhân vật, đi dọc theo tác phẩm và trở thành điểm nhấn của tác phẩm.

– Đôi bàn tay khi nguyên vẹn: đôi bàn tay của nghĩa khí, của nghị lực viết chữ, đôi bàn tay lành lặn, đôi bàn tay hừng hực của ngọn lửa chiến đấu, căm thù.
– Bàn tay khi bị giặc đốt, được chữa lành anh vào lực lượng, tiếp tục chống giặc.

→ Vẫn vững vàng cầm vũ khí.

Chủ đề tìm kiếm bài viết: soạn bài rừng xà nu, soan bai rung xa nu, soạn văn bài rừng xà nu, soạn bài rừng xà nu theo sách giáo khoa, rừng xà nu soạn bài, soan van bai rung xa nu, bai soan rung xa nu, soạn bài rừng xà nu theo câu hỏi sách giáo khoa, soạn bài rừng xà nu lop 12, soạn bài rừng xà nu ngắn gọn, soan bai rung xa nu theo cau hoi sgk, hướng dẫn soạn bài rừng xà nu, soan bai rung xa nu cua nguyen trung thanh
Soạn văn bài Rừng Xà nu
5 (100%) 1 vote

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here