Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc lớp 11

661

Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc lớp 11c ngắn nhất bao gồm hai phần : Tác giả Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm.

Soạn bài văn tế nghĩa sĩ cần giuộc
Soạn bài văn tế nghĩa sĩ cần giuộc

Phần 1: Tác giả Nguyễn Đình Chiểu – Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc lớp 11

Câu 1:

a. Những nét chính về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu:

– Nguyễn Đình Chiểu(1822-1888) tự là Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ. Ông sinh tại quê mẹ, làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Thân phụ ông là Nguyễn Đình Huy, người Thừa Thiên. Mẹ là Trương Thị Thiệt.

– Năm 1833, Nguyễn Đình Chiểu được cha đưa ra Huế ăn học.

– Năm 1849, ra Huế thi thì được tin mẹ mất. Ông trở về chịu tang mẹ, ông vừa ốm nặng vừa thương khó mẹ nên bị mù cả hai mắt. Ông về quê dạy học và chuyển sang học thuốc.

– Năm 1859, giặc Pháp tràn vào sông Bến Nghé, Nguyễn Đình Chiểu về Cần Giuộc, rồi Bến Tre. Đó là thời gian ông viết Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Ông luôn giữ thái độ kiên trung, không hợp tác với giặc.

b. Cuộc đời của nhà thơ:

Là tấm gương sáng, cao đẹp cho nhân cách và nghị lực của con người tuy bị mù, ông vẫn là một thầy giáo tận tâm, là một thầy thuốc giàu y đức và là một nhà thơ xuất sắc. Những những đóng góp của ông không hề nhỏ và những tác phẩm của ông đậm chất hiện thực và phê phán sâu sắc.

Câu 2: Tìm hiểu giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu:

a. Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho:

Bởi thế mà tư tưởng đạo đức, nhân nghĩa của ông mang tinh thần Nho giáo. Mặc dù vậy Nguyễn Đình Chiểu còn là một trí thức nhân dân, suốt đời sống nơi thôn xóm, nên tư tưởng đạo đức của ông có những nét mang phong cách rất dân dã của những người nông dân thuần phác.

Hình tượng người nghĩa sĩ nông dân là hình tượng thành công nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu. Ông tập trung ủng hộ và ca ngợi các tấm gương người tốt. Đó là những con người có phẩm chất tiêu biểu cho quan niệm đạo đức truyền thống như trung nghĩa, thuỷ chung, dũng cảm, sẵn sàng cưu mang con người trong cơn hoạn nạn, … Ca ngợi quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người, tình cha con, tình bạn bè, hàng xóm, nghĩa vợ chồng, …

b. Nguyễn Đình Chiểu sáng tác thơ văn yêu nước ở thời kì đầu chống Pháp xâm lược bảo vệ Tổ quốc.

Thơ văn yêu nước của ông là tiếng khóc than cho Tổ quốc buổi đầu gặp thương đau, đồng thời hết lòng ngợi ca những sĩ phu như Trương Định đã một lòng vì nước, vì dân. Ông dựng bức tượng đài bất tử về những người dân ấp, dân lân: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Ngay cả lúc bờ cõi đã chia đất khác, Nguyễn Đình Chiểu vẫn nuôi giữ một niềm tin vào ngày mai: “Một trận mưa nhuần rửa núi sông” (Xúc cảnh), vẫn kiên trì một thái độ bất khuất trước kẻ thù: “Sự đời thà khuất đôi tròng thịt – Lòng đạo xin tròn một tấm gương” (Ngư tiều y thuật vấn đáp)

Với những nội dung trên, có thể nói thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã đáp ứng xuất sắc những yêu cầu của cuộc sống và chiến đấu đương thời. Nó có tác dụng động viên, khích lệ không nhỏ tinh thần và ý chí cứu nước của nhân dân ta.

c. Sắc thái Nam Bộ độc đáo trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu thể hiện rõ ở từng nhân vật trong tác phẩm của ông.

Mỗi người dân Nam Bộ có thể bắt gặp mình ở các nhân vật của ông từ lời ăn, tiếng nói, ở sự mộc mạc, chất phác đến tấm lòng nặng tình nghĩa. Họ sống vô tư, phóng khoáng, ít bị ràng buộc bởi những phép tắc, lễ nghi và sẵn sàng xả thân vì nghĩa. Họ nóng nảy, bộc trực nhưng lại rất đằm thắm, ân tình. Đó là những nét rất riêng trong vẻ đẹp chung của con người Việt Nam.

Câu 3:

Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn Trãi đều có những điều gần gũi về tư tưởng nhân nghĩa. Nguyễn Trãi cũng lấy cái nền tảng của sự nhân nghĩa là quyền lợi cuẩ nhân dân nhưng đến Nguyền Đình Chiểu thì phạm trù nhân nghĩa mới thực sự mở rộng đến nhân dân, gần gũi thực sự với nhân dân. Đó thực sự là một bước tiến dài của tư tưởng.

Phần 2: Tác phẩm – Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc lớp 11

Câu 1 (trang 65 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Văn tế: là loại văn thường gắn với phong tục tang lễ, nhằm bày tỏ lòng tiếc thương đối với người đã mất, văn tế thường có nội dung cơ bản, kể lại cuộc đời công đức phẩm hạnh của người đã mất và bày tỏ tấm lòng xót thương sâu sắc.

Văn tế có thể được viết theo nhiều thể: văn xuôi, thơ lục bát, song thất lục bát, phú,… Bố cục của bài văn tế thường gồm bốn đoạn: lung khởi, thích thực, ai vãn và kết. Giọng điệu chung của bài văn tế nói chung là lâm li, thống thiết, sử dụng nhiều thán từ và những từ ngữ, hình ảnh có giá trị biểu cảm mạnh.

Bố cục của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc:

– Đoạn 1 – Lung khởi (từ Hỡi ôi đến… tiếng vang như mõ): khái quát bối cảnh của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết của người binh nông dân.

– Đoạn 2 – Thích thực (từ câu 3 đến câu 15): miêu tả hình ảnh người nông daannghiax sĩ qua các giai đoạn từ cuộc đời lao động vất vả đến lúc trở thành dũng sĩ đánh giặc và lập chiến công.

– Đoạn 3 – Ai vãn (từ câu 16 đến câu 28): sự tiếc thương, cảm phục của tác giả và nhân dân đói với người nghệ sĩ.

– Đoạn 4 – Kết (hai câu cuối): ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ.

Câu 2 (trang 65 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc:

a, Nguồn gốc xuất thân:

– Từ nông dân nghèo cần cù lao động “cui cút làm ăn”.

– Nghệ thuật tương phản: chưa quen >< chỉ biết, vốn quen >< chưa biết.

Tác giả nhấn mạnh việc quen và chưa quen của người nông dân để tạo ra sự đối lập về tầm vóc của người anh hùng.

b, Lòng yêu nước nồng nàn:

– Khi thực dân Pháp xâm lược người nông dân cảm thấy lo sợ→ trông chờ→ căm thù → đứng lên chống lại.

→ Diễn biến tâm trạng của người nông dân.

c, Tinh thần chiến đấu hi sinh của người nông dân:

– Quân trang, quân bị rất thô sơ: một manh áo vải, ngọn tầm vông, lưỡi dao phay, rơm con cúi… đã đi vào lịch sử.

– Tác giả sử dụng những động từ chỉ hành động mạnh mẽ với mật độ cao, nhịp độ khẩn trương, sôi nổi: đạp rào, lướt xông vào, đặc biệt là những động từ chỉ hành động rứt khoát: đốt xong, chém rớt đầu. Sử dụng các động từ chéo: đâm ngang, chém ngược → làm tăng thêm sự quyết liệt của trận đánh.

=> Nguyễn Đình Chiểu đã tạc một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân nghĩa sĩ đánh giặc cứu nước.

Về nghệ thuật, đoạn văn hầu như được xây dựng bằng những chi tiết chân thực, được cô đúc từ đời sống thực tế nên có tầm khái quát cao, không sa vào vụn vặt, tản mạn. Ngòi bút hiện thực kết hợp với chất trữ tình sâu lắng. Ngôn ngữ vừa trang trọng vừa dân dã, mang đậm sắc thái Nam Bộ.

Câu 3 (trang 65 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Đoạn 3 (ai vãn) là tiếng khóc bi thiết của tác giả xuất phát từ nhiều cảm xúc:

– Nỗi xót thương đối với người liệt sĩ phải hi sinh sự nghiệp dang dở, ra đi khi chí nguyện chưa thành.

– Nỗi xót xa của gia đình mất người thân, với những mẹ già, vợ trẻ.

– Nỗi căm hờn những kẻ đã gây ra nghịch cảnh éo le hòa chung với tiếng khóc uất ức nghẹn ngào trước cảnh đau thương của đất nước, của dân tộc.

=> Tiếng khóc lớn, mang tầm vóc lịch sử.

Tiếng khóc trong tác phẩm tuy bi thiết nhưng không bi lụy, không đượm màu tang tóc, bởi nó mang âm hưởng của niềm tự hào, sự khẳng định về ý nghĩa bất tử của cái chết vì nước, vì dân mà muôn đời sau con cháu vẫn tôn thờ.

Câu 4 (trang 65 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Sự gợi cảm mạnh mẽ của bài văn tế chủ yếu được biểu hiện qua những cảm xúc chân thành, sâu nặng và mãnh liệt của nhà thơ. Những câu thơ như:

Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Có sức khơi gợi sâu xa trong lòng người đọc.

Ngoài ra, bài văn tế còn có giọng điệu đa dạng và đặc biệt gây ấn tượng bởi những câu văn bi tráng, thống thiết kết hợp với các hình ảnh đầy sống động (manh áo vải, ngọn tầm vông, rơm con cúi, mẹ già…)

Luyện tập – Soạn bài văn tế nghĩa sĩ cần giuộc

Câu 2 (trang 65 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Để làm sáng tỏ ý kiến của giáo sư Trần Văn Giàu: “Cái sống được cha ông ta quan niệm là không thể tách rời với hai chữ nhục, vinh. Mà nhục hay vinh là sự đánh giá theo thái độ chính trị đối với cuộc xâm lược của Tây: đánh Tây là vinh, theo Tây là nhục”, có thể dẫn ra và phân tích các câu như:

– Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

– Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Trên đây là bài tập làm văn soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc lớp 11, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!

Mời các bạn xem thêm bài viết:
Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc

Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc lớp 11
5 (100%) 1 vote

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here